Tổng quan kinh tế vĩ mô tháng 5/2026
10/06/2026Kinh tế vĩ mô tháng 05/2026 ghi nhận hoạt động sản xuất có sự khởi sắc rõ nét (PMI đạt đỉnh kể từ tháng 2) và tiến độ giải ngân đầu tư công bước đầu cải thiện, nhưng tính bền vững chưa cao do áp lực chi phí đầu vào ở mức kỷ lục 15 năm.
Sản xuất Công nghiệp và Đầu tư Công
- Sản xuất khởi sắc trở lại, nhưng động lực chưa thực sự bền vững: PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 5/2026 tăng mạnh lên 52.8 điểm từ mức 50.5 điểm của tháng trước, đánh dấu mức cao nhất kể từ tháng 2. Hoạt động sản xuất phục hồi rõ nét nhờ đơn hàng mới và sản lượng tăng. Tuy nhiên, một phần nhu cầu đến từ hoạt động tích trữ hàng tồn kho trước lo ngại xung đột Trung Đông kéo dài, chưa phản ánh hoàn toàn sự cải thiện của nhu cầu cuối cùng. Áp lực chi phí đầu vào leo thang lên mức cao nhất trong khoảng 15 năm do giá năng lượng, vận tải và gián đoạn chuỗi cung ứng, tạo rủi ro thu hẹp biên lợi nhuận doanh nghiệp.
- Giải ngân đầu tư công cải thiện nhưng còn thấp so với kế hoạch: Theo Báo cáo số 6926/BTC-PTHT của Bộ Tài chính, giá trị giải ngân vốn đầu tư công trong tuần 15/05–21/05 đạt 16,526 tỷ đồng, tăng khoảng 1.4 lần so với tuần trước. Lũy kế đến ngày 21/05, tổng vốn giải ngân đạt 182,545 tỷ đồng, tương đương 18% kế hoạch năm (thấp so với mục tiêu giải ngân hơn 1 triệu tỷ đồng trong 2026). Hà Nội dẫn đầu về tiến độ với tỷ lệ gần 32.8%, trong khi TP.HCM mới đạt khoảng 17.4%.
Chính sách Tiền tệ Quốc tế và Tỷ giá
- Chính sách của Fed: Biên bản cuộc họp FOMC công bố vào tháng 5 cho thấy tâm lý thận trọng hơn của các nhà hoạch định chính sách trước rủi ro lạm phát kéo dài. Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3.5%–3.75%. Tiến trình đưa lạm phát về mục tiêu 2% diễn ra chậm hơn dự kiến và Fed có khả năng phải thắt chặt trở lại nếu áp lực giá cả gia tăng.
- Thị trường ngoại hối trong nước: Trong nửa sau tháng 05/2026, tỷ giá trung tâm USD/VND tăng nhẹ.
- Chỉ số tỷ giá: Tính đến ngày 30/05, tỷ giá trung tâm tăng lên 25,139 VND (tăng 8 đồng so với ngày 15/05). Cuối ngày 30/05, Vietcombank niêm yết 26,115 VND (mua) và 26,395 VND (bán) – tăng 18 đồng ở chiều mua và giảm 8 đồng ở chiều bán. BIDV niêm yết 26,125 VND (mua) và 26,395 VND (bán) – giảm 12 đồng ở cả hai chiều.
- Yếu tố tác động: Áp lực từ việc đồng USD mạnh lên và nền swap cao (hệ quả từ tình trạng căng thanh khoản bên trong hệ thống, không phải từ mục tiêu điều hành) gây sức ép lớn lên tỷ giá. Tuy nhiên, áp lực được giảm bớt phần nào do khả năng tăng lãi suất của Fed là rất thấp trước áp lực thanh khoản hệ thống Mỹ (khiến Fed phải QE) và việc chủ tịch Fed Kevin Warsh nhậm chức hỗ trợ giảm chi phí vốn cho UST bonds. Hiện tại, bài toán tỷ giá – lãi suất vẫn là vấn đề đau đầu đối với SBV khi bộ đệm dự trữ ngoại hối không còn dư dả và khả năng thu hút ngoại tệ chưa khả quan.

Thị trường Tiền tệ và Thanh khoản Hệ thống
Thị trường huy động (Thị trường 1)
Mặt bằng lãi suất huy động trong tháng 5/2026 duy trì ổn định, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu nhưng tốc độ điều chỉnh giảm đã chậm lại đáng kể.
- Diễn biến tại các nhóm ngân hàng:
- Nhóm Big4 (Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank): Tiếp tục đi ngang, không ghi nhận điều chỉnh mới. Mặt bằng lãi suất dao động từ 2.1% đến 6.0%/năm (kỳ hạn 1–36 tháng, tại quầy).
- Nhóm NHTM khác (đến 31/05): Kỳ hạn 1–3 tháng duy trì mức 3.5%–4.75%/năm; kỳ hạn 6–9 tháng ở mức 4.8%–7.0%/năm; kỳ hạn 12 tháng ở mức 5.3%–7.1%/năm.
- Đặc điểm nguồn vốn: Nửa cuối tháng 5, lãi suất dưới 6 tháng ổn định (3.0–4.75%/năm), nhưng một số ngân hàng quy mô nhỏ và vừa (OCB, Nam A Bank, Sacombank) đã có động thái tăng cục bộ 0.1–0.3 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên nhằm thu hút nguồn vốn trung và dài hạn trước khi điều chỉnh giảm trở lại.
- Cân đối kỳ hạn: Tăng trưởng tín dụng 4 tháng đầu năm đạt 4.4%, cao hơn đáng kể so với mức tăng huy động khoảng 2.6%. Do đó, dư địa giảm thêm lãi suất huy động không còn nhiều, các ngân hàng ưu tiên duy trì mặt bằng lãi suất ổn định thay vì giảm sâu. (Ngày 22/05/2026, NHNN cũng ban hành công văn số 4190/NHNN-CSTT đôn đốc kiểm tra việc giảm mặt bằng lãi suất tại các TCTD).
Thị trường liên ngân hàng (Thị trường 2)
Trong nửa sau tháng 05/2026, lãi suất các kỳ hạn trên thị trường liên ngân hàng tiếp tục neo ở vùng cao do áp lực tỷ giá và nhu cầu vốn ngắn hạn chưa giảm:
- Biến động lãi suất: So với ngày 15/05, lãi suất qua đêm tăng 171 điểm cơ bản (bps), kỳ hạn 1 tuần tăng 183 bps, kỳ hạn 2 tuần tăng 132 bps và kỳ hạn 1 tháng tăng 62 bps. Trong hai phiên 26–27/05, lãi suất tăng mạnh lên gần 8.0% ở nhiều kỳ hạn, mức cao nhất kể từ đầu tháng 4/2026.
- Lãi suất giao dịch chốt ca: ON 6.96%/năm; 1 tuần 7.38%/năm; 2 tuần 7.35%/năm; 1 tháng 7.32%/năm.
- Thanh khoản: Giá trị giao dịch liên tục vượt 800.000 tỷ đồng trong tuần 22–28/05, phản ánh nhu cầu thanh khoản ngắn hạn gia tăng.
- Can thiệp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN): Trong tuần từ 25/05 – 29/05, NHNN chào thầu tổng cộng 129,480.31 tỷ đồng trên kênh cho vay cầm cố giấy tờ có giá (OMO) với các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4.5%/năm. Khối lượng thầu đáo hạn là 98,747.48 tỷ đồng và không chào thầu tín phiếu. NHNN đã bơm ròng 30,732.83 tỷ đồng vào hệ thống, đưa tổng khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố lên 332,311.66 tỷ đồng (đảo chiều so với phiên hút ròng 8,000 tỷ đồng tuần trước đó).
Thị trường Trái phiếu Doanh nghiệp (TPDN)
Hoạt động phát hành và mua lại (Tính đến ngày công bố thông tin 22/05/2026):
- Phát hành: Trong tháng 5 ghi nhận 16 đợt phát hành TPDN với tổng khối lượng 17,480 tỷ đồng (đến từ lĩnh vực bất động sản và ngân hàng). Lũy kế từ đầu năm 2026 đạt 104,659 tỷ đồng; trong đó phát hành ra công chúng trị giá 16,334 tỷ đồng (chiếm 15.91%) và phát hành riêng lẻ trị giá 87,935 tỷ đồng (chiếm 84.09%).
- Mua lại: Các doanh nghiệp đã mua lại 11,085 tỷ đồng trái phiếu trong tháng 5. Lũy kế từ đầu năm đạt 53,722 tỷ đồng (tương đương so với năm 2025). Nhóm Ngân hàng dẫn đầu hoạt động này, chiếm khoảng 75% tổng giá trị mua lại trước hạn (tương ứng khoảng 40,315 tỷ đồng).
- Áp lực đáo hạn: Trong phần còn lại của năm 2026, tổng giá trị trái phiếu đến hạn lớn, ở mức 143,373 tỷ đồng. Áp lực tập trung chủ yếu ở hai nhóm ngành:
- Bất động sản: 75,117 tỷ đồng (chiếm 52.4%).
- Ngân hàng: 23,155 tỷ đồng (chiếm 16.2%).
- Giao dịch thứ cấp: Giá trị giao dịch TPDN riêng lẻ trung bình ngày đạt 6,025 tỷ đồng, tăng 6.79% so với tuần trước. Tính từ đầu năm đến nay, tổng giá trị giao dịch trái phiếu riêng lẻ đạt khoảng 547 nghìn tỷ đồng. Các tổ chức có trái phiếu được giao dịch nhiều nhất là CTCP Vinhomes (4,414 tỷ đồng), MBBank (3,756 tỷ đồng) và HDBank (3,586 tỷ đồng).
Đánh giá chung về kinh tế vĩ mô tháng 5/2026
Kinh tế vĩ mô tháng 05/2026 ghi nhận hoạt động sản xuất có sự khởi sắc rõ nét (PMI đạt đỉnh kể từ tháng 2) và tiến độ giải ngân đầu tư công bước đầu cải thiện, nhưng tính bền vững chưa cao do áp lực chi phí đầu vào ở mức kỷ lục 15 năm. Thị trường tài chính đối mặt với áp lực thanh khoản ngắn hạn lớn khi tăng trưởng tín dụng (4.4%) vượt xa tăng trưởng huy động (2.6%), khiến lãi suất liên ngân hàng neo cao quanh vùng 7.0% – 8.0% bất chấp nỗ lực bơm ròng hơn 30.7 nghìn tỷ của NHNN qua kênh OMO.
Áp lực tỷ giá vẫn rất căng thẳng do biến động quốc tế và dự trữ ngoại hối co hẹp. Dù mặt bằng lãi suất huy động thị trường 1 được kỳ vọng sẽ tiếp tục giữ thế ổn định ổn định nhờ định hướng điều hành, áp lực đáo hạn TPDN rất lớn vào cuối năm (hơn 143 nghìn tỷ đồng, tập trung ở nhóm Bất động sản) vẫn là rủi ro trọng yếu cần giám sát chặt chẽ.
Xem các lại tuyến nội dung “Tổng quan kinh tế vĩ mô” hàng tháng tại đây.