Tổng quan kinh tế vĩ mô tháng 6 và nửa đầu 2026
24/07/2026Bức tranh toàn cảnh về tình hình kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính Việt Nam tháng 6 cùng nửa đầu năm 2026. Bài viết cung cấp các phân tích chuyên sâu về đà tăng trưởng GDP, áp lực lạm phát, dòng vốn FDI, biến động tỷ giá và thị trường chứng khoán dựa trên dữ liệu báo cáo từ PVI AM.
Tăng trưởng Kinh tế và Sản xuất Công nghiệp
- Tăng trưởng GDP: Kinh tế Việt Nam tăng trưởng 8,18% trong 6 tháng đầu năm (6T/2026), ghi nhận mức cao nhất trong hơn hai thập kỷ. Tăng trưởng cải thiện qua từng quý, với quý 1 đạt 7,83% và quý 2 đạt 8,39% (mức cao nhất kể từ năm 2011). Sự phục hồi diễn ra rộng khắp, dẫn dắt bởi nhóm chế biến chế tạo (+10,2% YoY), công nghiệp và xây dựng (+9,5% YoY) cùng dịch vụ (+9,7% YoY).
- Sản xuất công nghiệp: Hoạt động sản xuất duy trì đà tăng trưởng vững chắc khi Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8% YoY trong 6T/2026 và tăng 12,7% YoY riêng trong tháng 6.
- Chỉ số PMI: Chỉ số PMI sản xuất tháng 6 giảm nhẹ về mức 51,8 điểm từ 52,8 điểm của tháng 5, song vẫn duy trì trên ngưỡng mở rộng 50 điểm trong tháng thứ 12 liên tiếp. Đơn hàng mới và sản lượng tiếp tục tăng, thể hiện đà mở rộng bền vững của hoạt động sản xuất.
Kinh tế vĩ mô: Lạm phát (CPI)
- Trong tháng 6/2026, CPI giảm 0,39% so với tháng trước (MoM) chủ yếu nhờ giá nhiên liệu trong nước giảm theo giá dầu thế giới, nhưng vẫn tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước (YoY).
- Bình quân 6T/2026, CPI tăng 4,38% YoY, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,12% YoY. Áp lực lạm phát nửa đầu năm chịu ảnh hưởng lớn từ cú sốc giá năng lượng và đã có dấu hiệu lan sang các nhóm hàng hóa khác như nhà ở, vật liệu xây dựng và dịch vụ ăn uống.
Xuất nhập khẩu và Thương mại
- Lũy kế 6T/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức 549 – 549,69 tỷ USD (tăng 27,1% YoY).
- Việt Nam ghi nhận mức thâm hụt thương mại khoảng 16,65 – 16,7 tỷ USD trong nửa đầu năm, đánh dấu lần thâm hụt nửa đầu năm đầu tiên kể từ 2022. Xuất khẩu duy trì tích cực đạt 266,52 tỷ USD (+21,0% YoY), nhưng nhập khẩu tăng nhanh hơn đáng kể ở mức 283,17 tỷ USD (+33,4% YoY) do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất.
- Khối doanh nghiệp FDI tiếp tục là động lực xuất khẩu chính và duy trì thặng dư 8,3 tỷ USD, trong khi khu vực trong nước thâm hụt 25 tỷ USD. Tính riêng tháng 6/2026, tổng kim ngạch đạt 104,22 tỷ USD, trong đó xuất khẩu là 50,79 tỷ USD và nhập khẩu là 53,43 tỷ USD.

Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI)
- FDI đăng ký: Dòng vốn FDI mạnh lên về cuối quý 2, đưa tổng vốn đăng ký mới trong 6T/2026 đạt kỷ lục 34,65 – 34,7 tỷ USD (tăng 61,0% – 61,2% YoY), mức cao nhất 5 năm qua cho nửa đầu năm. Riêng tháng 6, vốn đăng ký tăng gấp 3,1 lần YoY.
- FDI giải ngân: Đạt mức 13,0 – 13,03 tỷ USD (+11,2% YoY), tiếp tục là mức thực hiện nửa đầu năm cao nhất trong các năm gần đây.
- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn dẫn đầu tuyệt đối, chiếm 53,3% tổng vốn đăng ký và 82,6% tổng vốn thực hiện. Các đối tác lớn nhất bao gồm Singapore, Hàn Quốc và Malaysia.
Bán lẻ, Tiêu dùng và Du lịch
- Tiêu dùng nội địa duy trì sự ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 6T/2026 đạt 3.890 nghìn tỷ VND, tăng 12,9% YoY. Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố giá, sức mua thực chất chỉ tăng 7,3% YoY. Dù vậy, việc tăng 8% mức lương cơ sở từ ngày 1/7 được kỳ vọng sẽ hỗ trợ phần nào cho tiêu dùng trong nửa cuối năm.
- Du lịch tiếp tục phục hồi, đóng góp tích cực cho khu vực dịch vụ. Việt Nam đón gần 12,3 triệu lượt khách quốc tế trong nửa đầu năm (+14,9% YoY). Mặc dù vậy, đà tăng trưởng đang chịu ảnh hưởng khi hai thị trường nguồn lớn nhất (chiếm khoảng 40% tổng lượng khách) ghi nhận sự suy giảm nhẹ: Trung Quốc giảm 1,1% YoY và Hàn Quốc giảm 2,1% YoY.
Đầu tư công và Trái phiếu Doanh nghiệp
- Đầu tư công: Giải ngân ghi nhận sự cải thiện, đạt khoảng 335,6 – 356,9 nghìn tỷ VND trong 6T/2026 (tương đương 31,2% – 35% kế hoạch năm). Dù tiến độ nhanh hơn cùng kỳ, áp lực giải ngân trong nửa cuối năm vẫn rất lớn để đạt được mục tiêu cả năm của Chính phủ. Tuy nhiên, các điểm nghẽn hiện nay không mang tính diện rộng mà tập trung cục bộ. Cụ thể, dự án Đường sắt cao tốc Bắc – Nam và Đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng mới hoàn thành lần lượt 2,0% và 2,5% kế hoạch do vẫn đang ở giai đoạn đầu chuẩn bị đầu tư. Nếu loại trừ hai dự án này, giải ngân tại các công trình trọng điểm khác tích cực hơn đáng kể.
- Trái phiếu doanh nghiệp (TPDN): Trong 6T/2026, giá trị phát hành TPDN đạt 187.915 tỷ đồng, phần lớn là phát hành riêng lẻ. Cơ cấu phát hành tập trung ở nhóm Ngân hàng (50%) và Bất động sản (40%). Tổng giá trị TPDN đáo hạn trong nửa cuối năm 2026 ước tính lên tới 116.329 tỷ đồng, cho thấy áp lực thanh toán vẫn còn hiện hữu.
Thị trường Tiền tệ (Lãi suất & Tỷ giá)
- Thanh khoản và Lãi suất: Trong tháng 6, thanh khoản hệ thống tương đối ổn định giúp lãi suất liên ngân hàng qua đêm bình quân giảm về khoảng 5,0%. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản mang tính cơ cấu và nhu cầu vốn cuối quý 2 đã đẩy lãi suất qua đêm tăng vọt trở lại mức 7,25% vào cuối tháng. NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt thông qua kênh OMO để bơm thanh khoản hỗ trợ hệ thống.
- Tỷ giá: Tỷ giá USD/VND chịu áp lực dai dẳng do sức mạnh của đồng USD (chỉ số DXY) và thâm hụt cán cân thương mại. Tuy nhiên, nhờ sự điều hành linh hoạt của NHNN cùng dòng tiền FDI tích cực, tỷ giá liên ngân hàng cuối tháng 6 giữ ổn định quanh mức 26.310 VND/USD, tỷ giá trung tâm đạt 25.195-25.206 VND/USD.
Thị trường Chứng khoán
- Thị trường duy trì xu hướng phân hóa và chịu ảnh hưởng lớn từ biến động của nhóm vốn hóa lớn. Kết thúc tháng 6, VN-Index đóng cửa tại 1.860,01 điểm, giảm nhẹ 0,19% so với tháng trước.
- Tính chung quý II, VN-Index vẫn ghi nhận mức tăng hơn 11%, tuy nhiên đà tăng này chủ yếu được nâng đỡ bởi nhóm cổ phiếu liên quan đến Vingroup (đặc biệt là VIC và VHM). Thực tế, diễn biến các nhóm ngành khá phân hóa khi khoảng hai phần ba số ngành giảm trong tháng 6, kém tích cực nhất phải kể đến nhóm năng lượng (-6,85%) và y tế (-5,35%).
- Thanh khoản và dòng tiền ngoại: Thanh khoản tháng 6 suy giảm 24,34% so với tháng 5, chỉ đạt khoảng 18,4 nghìn tỷ đồng/phiên trên sàn HOSE. Điểm trừ lớn là khối ngoại bán ròng dai dẳng, ghi nhận mức bán ròng 14,9 nghìn tỷ đồng trong tháng 6 (lũy kế 6 tháng đạt khoảng 3,1 tỷ USD), tạo áp lực lên tâm lý thị trường.
Xem các lại tuyến nội dung “Tổng quan kinh tế vĩ mô” hàng tháng tại đây.